| LTS: Để nâng cao sản lượng khai thác than trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, Tập đoàn cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Công tác thăm dò đánh giá trữ lượng, việc cơ giới hóa trong sản xuất, việc nâng cao chất lượng ngồn nhân lực, công tác quản lý điều hành linh hoạt v.v. đều rất quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả Nguyễn Ngọc Bình chỉ đề cập đến một số vấn đề về hiện trạng và giải pháp dưới đây. |
Hiện trạng ... Đối với các mỏ lộ thiên, hiện nay ngành Than có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất trên 2 triệu tấn/năm (Cao Sơn, Cọc 6, Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo), 15 mỏ lộ thiên vừa và công trường lộ thiên (thuộc các công ty than hầm lò) sản xuất với công suất từ 100 - 700 ngàn tấn/năm và một số điểm khai thác lộ vỉa. Trong các năm qua Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, cải thiện tình trạng kỹ thuật và công nghệ Khai thác lộ thiên. Cụ thể TKV chỉ đạo và giao chỉ tiêu hệ số bóc đất đá cho các công ty, cải thiện dần các thông số của Hệ thống khai thác do các năm trước thu hẹp sản xuất. TKV cũng đã nghiên cứu và áp dụng thành công Hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng cho hầu hết các mỏ. Đồng thời, các khâu chủ yếu trong quy trình công nghệ khai thác lộ thiên đã được TKV đầu tư trang thiết bị hiện đại và đồng bộ. Đối với các mỏ hầm lò, đến nay TKV có trên 30 mỏ hầm lò đang hoạt động. Trong đó chỉ có 9 mỏ có trữ lượng huy động lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, khai thác với sản lượng hầm lò từ 1,5 triệu tấn/năm trở lên. Các mỏ còn lại sản lượng khai thác dưới 1,5 triệu tấn/năm, dây chuyền công nghệ và cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ. Một số mỏ nhỏ, diện tích khai trường hẹp, trữ lượng ít nên không có điều kiện để phát triển sản lượng và cơ giới hoá dây chuyền công nghệ. Hệ thống khai thác chia cột dài theo phương, lò chợ khấu theo chiều dốc cho vỉa thoải và nghiêng đang là hệ thống khai thác truyền thống được ứng dụng nhiều nhất trong khai thác hầm lò. Chiều dài lò chợ khi chống cột thuỷ lực đơn hoặc giá thuỷ lực di động là 100 - 150m, sản lượng 100 - 180 ngàn tấn/năm. Một số công nghệ khai thác đang được áp dụng thử nghiệm để khai thác vỉa mỏng và dốc > 50O như: Hệ thống khai thác dưới dàn mềm lò chợ cắt nghiêng; hệ thống áp dụng cơ giới hoá khai thác bằng giàn 2ANSH, hệ thống khai thác chia lớp ngang nghiêng chống giá thuỷ lực,... tuy nhiên những công nghệ này vẫn chưa hoàn thiện, năng suất chưa cao. Trong những năm qua Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đã chỉ đạo đưa vào áp dụng thử nghiệm khấu than trong lò chợ bằng máy combai tại mỏ Khe Chàm, Vàng Danh và một số mỏ thuộc vùng Quảng Ninh áp dụng cho những vỉa than dốc thoải dưới 25 độ, chiều dày 1,6 - 3m, chiều dài lò chợ 120m, bước đầu thành công. Sản lượng lò chợ khi khấu than bằng máy com bai chống giá thuỷ lực đạt 350 ngàn tấn/năm, khi khấu than bằng máy com bai chống giàn cơ giới hoá tự hành đạt 500 ngàn tấn/năm. Xu hướng phát triển khoa học công nghệ khai thác hầm lò thế giới hiện nay là hoàn thiện sơ đồ công nghệ khấu lò chợ dài theo hướng cơ giới hoá đồng bộ, tăng chiều cao khấu hết chiều dày vỉa. Phát triển sơ đồ công nghệ chia lớp nghiêng với vách giả nhân tạo bằng các vật liệu mới, khấu than dưới dàn tự hành có cơ cấu thu hồi than nóc và cơ giới hoá khai thác gương lò chợ ngắn. Giải pháp đề xuất Đối với các mỏ Lộ thiên, TKV cần: Một là, nâng công suất khai thác các mỏ lộ thiên Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn, Khe Chàm II, Đông và Tây Nam Đá Mài, Đông và Tây Khe Sim, Bắc Quảng Lợi. Hai là, mở rộng tối đa biên giới khai thác lộ thiên theo cả chiều sâu và chu vi ruộng mỏ tại các khu vực cho phép. Ba là, tổ chức khai thác hợp lý các mỏ, các khu để sớm hình thành các bãi thải trong với khối lượng đổ thải trong lớn nhất nhằm giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi sinh, môi trường. Bốn là, tiếp tục hiện đại hoá thiết bị của dây chuyền khai thác hiện nay theo hướng đưa vào sử dụng các loại thiết bị cơ động có công suất lớn, phù hợp với điều kiện và quy mô của từng mỏ, từng khu vực v.v. Đối với các mỏ hầm lò: Một là, đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa trong công tác đào lò xây dựng cơ bản cũng như các đường lò chuẩn bị sản xuất bằng các thiết bị hiện đại: Xe khoan tự hành, máy bốc xúc có năng suất cao, máy đào lò liên hợp,... Đi đôi với công tác đào lò, công tác chống lò cũng cần được tăng cường tối đa việc áp dụng các vật liệu và công nghệ chống giữ tiên tiến: chống lò bằng vì neo, vì neo kết hợp bê tông phun tại các khu vực có điều kiện địa chất thích hợp. Hai là, mở rộng nâng công suất các mỏ hiện có, tích cực đầu tư các mỏ hầm lò có công suất lớn để đảm bảo sản lượng than khai thác hầm lò tăng trưởng bền vững trên cơ sở trữ lượng và công nghệ khai thác. Ba là, hoàn thiện các thông số hệ thống khai thác lò chợ theo hướng tăng chiều dài lò chợ, tăng chiều dày lớp khấu hoặc khấu hết chiều dày vỉa. Bốn là, nghiên cứu và áp dụng cơ giới hoá đồng bộ cho các khu vỉa dốc và cơ giới hoá hạ trần để có những lò chợ sản lượng > 1,5 triệu tấn/năm. Năm là, đồng bộ hoá thiết bị trong vận tải lò chợ và các đường lò nhằm nâng cao năng lực vận tải đặc biệt đối với các lò chợ cơ giới hoá cao. Sáu là, tìm giải pháp kỹ thuật và công nghệ hợp lý để đề xuất các cấp, các ngành cho phép khai thác trong các vùng hạn chế nhằm tận dụng triệt để tài nguyên than trên cơ sở đảm bảo an toàn cho cảnh quan, môi trường và các công trình. Bảy là, tìm giải pháp kỹ thuật để tiến hành khai thác triệt để than trong các khu vực khó khai thác như trụ bảo vệ các công trình mặt bằng mỏ, đường ô tô, dưới các lòng hồ và vùng dân cư nhằm tận dụng và tiết kiệm tài nguyên. Tám là, tích cực thăm dò, nghiên cứu công nghệ và khả năng khai thác khí hoá than để có thể sớm đưa khoáng sàng Bình Minh - Khoái Châu vào khai thác để có thể nâng cao sản lượng khai thác, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. |